🇻🇳🇻🇳🇻🇳 SỰ LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch không ngừng gia tăng hoạt động xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm gây nhiễu loạn nhận thức, làm suy giảm niềm tin xã hội. Thế nhưng, từ cả phương diện lý luận đến thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam suốt 95 năm qua đều nhất quán khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là cơ sở vững chắc để kiên quyết bác bỏ, đấu tranh đến cùng với mọi luận điệu sai trái, thù địch đang cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hiện nay.
Thứ nhất, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một quá trình vận động hoàn toàn khách quan, hợp quy luật của lịch sử.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các khuynh hướng cứu nước theo lập trường phong kiến và dân chủ tư sản lần lượt thất bại, trong khi phong trào công nhân còn tự phát, đất nước rơi vào khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước, tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân, khai thông bế tắc về tư tưởng và chính trị. Sự trưởng thành của hệ tư tưởng vô sản cùng sự ra đời của các tổ chức cộng sản cuối năm 1929 đã tạo tiền đề chín muồi cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. Đây là kết tinh tất yếu của chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, khẳng định ngay từ đầu vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng đối với giai cấp và dân tộc.
Thứ hai, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp.
Điều này được khẳng định nhất quán trong các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến nay. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Không chỉ dừng ở Hiến pháp, vai trò ấy còn được ghi nhận đồng bộ trong Cương lĩnh của Đảng, Điều lệ Đảng và điều lệ của Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Đoàn Thanh niên – thể hiện sự thống nhất của toàn bộ hệ thống chính trị, chứ không phải sự quy định “đơn phương” của riêng Đảng.
Thực tiễn lịch sử càng củng cố tính chính danh đó. Trong thời kỳ tồn tại Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam (1944–1988), các đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tự giải thể khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Sự kiện ấy là minh chứng rõ ràng: vai trò lãnh đạo của Đảng không phải do áp đặt, mà là kết quả tất yếu của lựa chọn lịch sử và sự uỷ thác của nhân dân Việt Nam.
Thứ ba, sự lãnh đạo của Đảng đối với vận mệnh dân tộc là hợp lòng dân và được nhân dân đặt trọn niềm tin yêu.
Hơn 95 năm lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy một quy luật nhất quán: mọi thắng lợi của dân tộc: từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều gắn liền với đường lối đúng đắn của Đảng và sự đồng thuận của nhân dân. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định rõ sứ mệnh là lãnh đạo nhân dân giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không mưu cầu lợi ích riêng mà đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Trải qua 13 kỳ Đại hội, Đảng kiên định phương châm “lấy dân làm gốc”, coi gắn bó với nhân dân là nguồn sức mạnh và nền tảng mọi thắng lợi. Chính thực tiễn ấy khẳng định: niềm tin của nhân dân đối với Đảng không phải từ khẩu hiệu, mà từ kết quả phục vụ Tổ quốc và Nhân dân.
Thứ tư, thực tiễn lịch sử đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng từ khi ra đời đến nay, Đảng luôn dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Chỉ sau 15 năm thành lập, với khoảng 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành độc lập, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc. Hai mươi bốn năm sau, Đảng lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, giải phóng miền Bắc; bốn mươi lăm năm sau, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ đổi mới, vai trò ấy càng được khẳng định bằng những thành tựu cụ thể: Việt Nam từ nhóm nước nghèo vươn lên nền kinh tế có quy mô GDP đứng khoảng thứ 32 thế giới; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 5.000 USD; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống còn 1,3% năm 2025 . Từ một nước bị bao vây cấm vận, hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20) .
Trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, những minh chứng thực tiễn càng khẳng định rõ giá trị lịch sử và hiện thực của sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời bác bỏ dứt khoát các luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “sản phẩm đẻ non” hay “tiếm quyền”. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: chính sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của dân tộc. Thực tiễn ấy được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định sâu sắc: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.
Huyền Nga












